NHẬN XÉT PHIM

15 phim hay nhất chịu ảnh hưởng của triết học Nietzsche

'Superman': Friedrich Nietzsche, German philosopher, 19th century (1956). Nietzsche (1844-1900) put forward the idea of the Übermensch (Superman) as an objective for humanity to aspire to in his book Thus Spoke Zarathustra, published in 1883. From the Picture Post Library. A print from 'Ideas, a volume about the origin and early history of many things, common and less common, essential and inessential', by Readers Union The Grosvenor Press, London, 1956. (Photo by The Print Collector/Print Collector/Getty Images) 'Superman': Friedrich Nietzsche, German philosopher, 19th century (1956). Nietzsche (1844-1900) put forward the idea of the Übermensch (Superman) as an objective for humanity to aspire to in his book Thus Spoke Zarathustra, published in 1883. From the Picture Post Library. A print from 'Ideas, a volume about the origin and early history of many things, common and less common, essential and inessential', by Readers Union The Grosvenor Press, London, 1956. (Photo by The Print Collector/Print Collector/Getty Images)

 Triết gia vĩ đại người Đức Friedrick Nietzsche từng ca ngợi nghệ thuật như thế này: “Nghệ thuật là đối trọng mạnh mẽ duy nhất chống lại mọi ý định phủ nhận sự sống, nghệ thuật là phản- Chúa, phản – Đức Phật, và phản Hư Vô”. Tư tưởng đó của ông sau này đã được rất nhiều nhà làm phim đưa vào các tác phẩm điện ảnh.

Dưới đây là 15 bộ phim hay nhất chịu ảnh hưởng từ các lí thuyết triết học của Nietzsche như Đạo lý Chủ nô – Nô lệ (Master-Slave Morality), Ý chí Hùng cường (The Will to Power), Apollo và Dionysus, Vĩnh cửu luân hồi (Eternal Recurrence), và Trên cả con người (Above-Human).

Chúng tôi xin sắp xếp theo thứ tự từ trên xuống dưới:

15. “Devil’s Advocate” (Kẻ thờ quỷ – 1997)

Bộ phim này dù nhận được cả khen lẫn chê từ giới phê bình, nhưng vẫn là một thành công lớn ở phòng vé.

Nhân vật chính của phim là Kevin Lomax, một luật sư có tài chưa từng thua một vụ kiện nào. Kevin nhận lời mời của một hãng luật do John Milton đứng đầu và chuyển đến Mahattan để làm việc cho ông ta. Tại đây, Kevin đắm chìm trong công việc mà không để ý đến những thay đổi, những vấn đề của vợ mình. Milton dường như là mẫu nhân vật “biết tuốt”, luôn luôn có giải pháp cho mọi chuyện. Trong khi đó, mẹ của Kevin lặp đi lặp lại những lời khuyên từ Kinh Thánh khi dạy dỗ anh.

Devils-Advocate

Nội dung của phim được lồng ghép khéo léo với các ý tưởng triết học của người viết kịch: thiên sử thi bằng thơ nổi tiếng “Thiên đường đánh mất” của nhà thơ người Anh – John Milton (trùng tên với nhân vật Milton trong phim) thường được nhắc đến trong lời thoại của các nhân vật. Ý nghĩa đích thực của Ý chí tự do (Free Will) cũng được khai thác thông qua “ý chí hùng cường” của Kevin. Gã khăng khăng rằng theo đuổi quyền lực là một điều tự nhiên đối với mỗi luật sư. Luật sư là phải thắng. Nhưng khi Milton nhúng tay vào, mọi chuyện đều thay đổi.

Ý chí của mỗi con người không thể tồn tại hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài. Khi có quá nhiều cá nhân tham gia vào một việc, ý chí của một người sẽ bị ảnh hưởng bởi ý chí của những kẻ khác. Cuộc đối đầu giữa ý chí hướng tới quyền lực (Will to Power) và ý chí hướng tới sự khoái lạc (Will to Pleasure) trong bộ phim là một vấn đề luôn tồn tại dai dẳng trong xã hội hiện đại.

14. “Hitler, the Rise of Evil” (Hitler: Sự trỗi dậy của Quỷ – 2003)

Đây là một series phim truyền hình ngắn do Canada sản xuất dưới dạng bán tiểu sử, kể về cuộc đời của Hitler từ lúc thiếu sinh cho đến khi ông ta leo lên đỉnh cao quyền lực. Bộ phim cố gắng gợi lên những sự kiện lịch sử qua góc nhìn của Hitler. Mặc dù có một số chi tiết tương phản giữa phim và đời thực, nhưng tinh thần tôn trọng lịch sử trong phim vẫn được giữ vững.

Bộ phim bắt đầu khi Hitler còn là một đứa trẻ, quá nhỏ để bộc lộ cảm xúc khi cha của ông ta chết. Mười năm sau, tên trùm phát xít tương lai xin học tại Học viện Nghệ thuật Vienna, nhưng bị từ chối, với lí do rằng, ông ta thiếu tài năng của một nghệ sĩ. Đây là một khoảng khắc rất quan trọng trong cuộc đời của Hitler khi ông ta phải đối mặt với sự thật cay đắng mà mẹ của mình đã luôn luôn nhắc đến.

Hitler-the-Rise-of-Evil

Thế giới như sụp đổ trước mắt. Khi mẹ mất, Hitler chuyển đến sống ở Vienna, và cảm thấy rất đồng cảm với thái độ bài Do Thái của cư dân thành phố này. Ông ta bắt đầu đổ lỗi người Do Thái đã tạo ra sự bất hạnh của mình. Hitler gia nhập quân đội Đức trong Thế chiến thứ nhất, nhưng bị thương chỉ sau vài tháng. Ở bệnh viện, Hitler nghe tin quân đội Đế chế Đức phải đầu hàng trước quân Đồng Minh, từ đó ông ta bắt đầu tin, và bắt đầu thuyết phục những người Đức khác, rằng mọi tai ương của nước Đức đều từ dân Do Thái.
Cuộc đời của Hitler là một sự ứng nghiệm đáng sợ lí thuyết về ý chí hướng tới quyền lực của Nietzsche. Điều nghịch lí nằm ở chỗ, khi Nietzsche còn sống, tư tưởng của ông được ủng hộ mạnh mẽ từ những người theo cánh tả, những người vô thần hay những người theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái. Nhưng từ khi Hitler lên nắm quyền, tư tưởng của Nietzsche, đặc biệt là khái niệm “Con người thượng đẳng” (Above-human) được đảng Nazi sử dụng rộng rãi cho mục đích tuyên truyền của mình. Phải mất rất lâu sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, tên tuổi và tư tưởng của Nietzsche mới được tách biệt khỏi những tội ác của Đức Quốc Xã.

13. “Groundhog Day” (Ngày Chuột Chũi – 1993)

Trên đường đi đến thị trấn Pittsburg, Phil – nhân viên dự báo thời tiết – bị mắc kẹt trong một cơn bão tuyết lớn và bị buộc phải ở lại thị trấn Punxsutawney qua đêm. Ngày hôm sau tỉnh dậy, Phil kinh hoàng nhận ra hôm đó vẫn là ngày 2/2, Groundhog Day, và tất cả những ngày về sau vẫn là ngày 2/2 bị lặp lại. Phil cố thoát ra khỏi thị trấn này và cái ngày 2/2 quái gở, nhưng tuyệt vọng và vô ích. Chấp nhận số phận của mình, Phil bắt đầu cố gắng cải thiện bản thân và nhanh chóng trở thành một người hùng trong mắt những cư dân của cái thị trấn bé nhỏ ấy. Phil giúp đỡ mọi người, học tiếng Pháp, học chơi piano và vật lộn từng ngày để gây ấn tượng với cô đồng nghiệp Rita.

groundhog-day

Triết lí về Vĩnh cửu luân hồi được mô phỏng rất rõ trong phim. Sự duy ý chí (Amor Fati) là lí do khiến cho Phil sống lặp lại một ngày trong suốt hàng năm trời, cho đến khi anh học được cách chấp nhận số phận của mình. Theo đó, Phil sẽ không cố thay đổi thực tại mà mình đang sống nữa, và cái vòng luẩn quẩn của thời gian đã bị phá vỡ, ngày 3/2 đã đến.

12. “Manderlay” (2005)

Đây là bộ phim thứ 2 trong bộ ba phim của đạo diễn người Đan Mạch – Lars Von Trier mang tên USA – “Mảnh đất của cơ hội”. Câu chuyện trong phim được nối tiếp sau một bộ phim trước của vị đạo diễn này. Một cô gái trẻ hư hỏng tên Grace, đi lang thang khắp nước Mĩ cùng với cha của mình – một ông trùm xã hội đen – và băng nhóm của ông ta. Họ tình cờ lưu lạc đến Manderlay, một đồn điền lớn, nơi mà tình trạng nô lệ vẫn còn tiếp diễn mặc dù cuộc Nội chiến Mỹ đã kết thúc được hơn 70 năm.

Dù hư hỏng nhưng vẫn đầy lòng cao thượng, Grace quyết định ở lại nơi đây cùng một đám tay chân và một vị luật sư dưới quyền cha của cô. Người chủ nô ở đây đang hấp hối, trước khi chết, bà đã nhờ Grace đốt dùm một quyển sổ tay trên đó ghi lại những điều luật của mình dành cho đám nô lệ. Grace vừa kinh tởm những điều được viết ra trong cuốn sổ, vừa cảm thấy cần phải làm gì đó cho những người nô lệ. Cô bắt đầu rao giảng cho họ những khái niệm về tự do, dân chủ. Nhưng mọi việc không đơn giản như thế, việc giảng giải đó không đem lại kết quả như cô mong đợi, ngược lại, nó đem lại nhiều rắc rối hơn ban đầu.

Manderlay

Đạo lí Chủ nô – Nô lệ vẫn còn tồn tại, và những người nô lệ đã sống trong xiềng xích quá lâu đến mức những khái niệm mới về tự do họ nhận được từ Grace khiến họ cảm thấy đó là một sự sai lầm. Câu chuyện đặt ra vấn đề, làm sao con người có thể chắc rằng, những giá trị tự do, dân chủ là đúng đắn như chúng ta vẫn khẳng định. Trên đời, mọi thứ luôn chỉ là tương đối.

Bộ phim không hề mang tư tưởng bài Mỹ hay kì thị chủng tộc. Những gì xảy ra ở Manderlay có thể xảy ra với bất cứ ai, ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Nietzsche đã rút ra kết luận, về tổng thể, đạo lí là cần thiết cho đám đông, và chỉ những cá nhân xuất chúng mới nên được dẫn lối bằng những nguyên tắc của riêng họ. Nhưng bởi vì đám đông chiếm tuyệt đại đa số và rất dễ nhận ra, làm sao chúng ta biết được ai là cá nhân xuất chúng?

11. “Broken Flower” (Đóa hoa tan vỡ – 2005)

Broken Flower” kể về một chàng Don Juan già thời hiện đại tên là Don Johnston. Sau khi bị đá bởi người tình mới nhất của mình, Don quyết định sống an phận, chỉ ngồi xem những bộ phim cũ và nghe nhạc trữ tình. Nhưng đột nhiên gã nhận được một lá thư khuyết danh gửi từ người tình cũ, thông báo rằng họ có chung một đứa con trai 19 tuổi, và nó đang muốn gặp cha của mình. Ban đầu Don cảm thấy dửng dưng, nhưng dưới sự thúc ép từ gã hàng xóm Winston, gã bắt đầu công cuộc truy tìm chủ nhân của bức thư này. Don trải qua bốn cuộc gặp với bốn người tình cũ, đối diện với quá khứ và hiện tại của chính mình.
Broken-Flower
Những cuộc gặp này đều có chung một cấu trúc, nhưng cũng cực kì khác biệt. Cuộc gặp sau lại tệ hơn cuộc gặp trước, nhưng phản ứng của Don gần như không thay đổi. Đó là biểu hiện của Vĩnh cửu luân hồi, khi những sự kiện trên dòng thời gian không giống nhau hoàn toàn nhưng rất gần gũi nhau. Mỗi người phụ nữ trong đó đều có một vị trí tương đương trong lòng Don, mỗi người trong số họ đều có thể là chủ nhân của bức thư kia.

Bộ phim đi sâu vào nhận thức của một cá nhân về chính mình, phân tích hành vi ứng xử của họ khi đi quá những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Trong thế giới của Don, không có gì bị cấm đoán, nhưng dường như gã không còn thích thú cái sự tự do ấy nữa. Trong Vĩnh cửu luân hồi, mỗi lựa chọn là một khả thể mở ra một vòng lặp mới.

10. “The Fountain” (Nguồn sống – 2006)

The Fountain” là một câu chuyện đơn giản, một câu chuyện tình, theo lời của đạo diễn Aronofsky. Một nhà khoa học cố gắng tìm ra phương thuốc chữa khối u trong não của vợ mình. Một nhà thám hiểm Tây Ban Nha cố gắng tìm ra Cây Nguồn Sống ở Tân Thế Giới để cứu nữ hoàng của mình. Một nhà du hành vũ trụ cùng một cái cây già cỗi du hành trong một cái bong bóng trong suốt, hướng về phía một dải tinh vân lấp lánh ánh vàng.

The-Fountain

Ba câu chuyện kết nối với nhau. Vợ của nhà khoa học đang viết một câu chuyện về hành trình của nhà thám hiểm. Sau khi cô chết, nhà khoa học trồng một cái cây trên mộ cô, và nhà du hành chính là nhà khoa học trong tương lai, vượt không gian và thời gian cùng cái cây yêu dấu của mình. Ba câu chuyện có chung một mô típ: một người đàn ông cố gắng cứu sống tình yêu của mình. Đó cũng chính là một hình mẫu của lí thuyết Vĩnh cửu luân hồi của Nietzsche, đó là cùng một sự kiện được lặp đi lại vô số lần, trong khoảng không gian vô tận. Nhà thám hiểm, nhà khoa học và nhà du hành đều là một người, họ đều sợ cái chết, họ cố gắng đánh bại cái chết đến mức quên cả sống. Nhưng cả 3 con đường đều dẫn đến chung một đích đến: thất bại.

9. “Rope” (Sợi dây thừng – 1948)

Bộ phim này là một thể nghiệm của Alfred Hitchcock, không giống với những bộ phim khác của ông, nó hầu như không được chỉnh sửa gì nhiều sau khi quay. Máy quay được bố trí rất cẩn thận, và mỗi cảnh quay được quay xuyên suốt trong khoảng 10 phút liền, khâu dựng phim được thực hiện rất khôn ngoan, khiến cho cả bộ phim giống như một cú bấm máy dài liên tục (long take).

2 học sinh, Brandon và Phillip lên kế hoạch giết chết một người bạn học của mình, rồi giấu xác cậu ta trong cái rương cũ trong nhà của họ. Rồi chúng tổ chức một bữa tiệc gia đình nhỏ, mời đến bạn gái, cha và chị của nạn nhân, và Rupert – giáo viên của lớp học đó.

rope

2 kẻ sát nhân coi nạn nhân là một kẻ yếu kém về trí tuệ, và sự thượng đẳng của chúng trở thành cái cớ để biện minh cho việc siết cổ cậu bạn đến chết. Bi kịch này bắt nguồn từ một cuộc thảo luận bình thường của Rupert về khái niệm Con người thượng đẳng của Nietzsche, con người thượng đẳng vượt lên trên tốt và xấu, tạo ra những giá trị mới cho nhân loại. Tuy nhiên, cách hiểu của 2 kẻ sát nhân cũng chính là cách Đức Quốc Xã diễn đạt lại tư tưởng của Nietzsche, cũng như là cách mà văn hóa đại chúng hiểu về nó. Trong tác phẩm “Như Zarathustra đã nói” của mình, Nietzsche giải thích rằng: Con người thượng đẳng là kẻ vượt qua được bản ngã loài người, kẻ tạo ra được những thứ vượt trên cả bản thân hắn. Vì giết chóc là một việc ai cũng có thể làm được, đó hẳn không phải là cách mà Nietzsche muốn chúng ta hiểu về tư tưởng của ông.

8. “Triumph of the Will” (Thắng lợi của ý chí – 1935)

Đó là kiệt tác tuyên truyền của Đức Quốc Xã, lấy bối cảnh đại hội đảng Quốc Xã ở Nuremberg năm 1934. Người ta đồn rằng, chính Hitler là người đứng đằng sau chỉ đạo cho bộ phim này. Những kĩ thuật dựng phim mới mẻ so với thời bấy giờ như quay phim trên không, ống kính hội tụ tầm xa và cách sử dụng mang tính cách mạng của âm nhạc khiến “Triumph of the Will” trở thành một trong những bộ phim vĩ đại nhất trong lịch sử.

Triumph-of-the-Will

Bộ phim không có lối dẫn chuyện, chỉ có những bài diễn văn dài vô tận của các lãnh đạo đảng Quốc Xã, trong đó có cả Hitler. Thay vì chứa đựng không khí bài Do Thái, bộ phim cố gắng khắc họa hình ảnh Hitler và bộ sậu của ông ta giống như chúa Jesus và các tông đồ của mình. Mọi thứ Hitler nói hoặc làm đều mang dáng dấp của một Đấng Cứu Thế. Hiện nay bộ phim này bị cấm ở Đức và nhiều nơi khác trên thế giới do các đạo luật cấm chủ nghĩa Phát Xít.

Cũng giống như rất nhiều thứ khác liên quan đến Hitler, bộ phim thể hiện một sự diễn dịch sai lầm Ý chí hướng tới quyền lực của Nietzsche.

7. “Fight Club” (Câu lạc bộ võ thuật – 1999)

“Fight Club” là một trong những bộ phim thiêng (cult movie) có ảnh hưởng lớn nhất đến văn hóa đại chúng, mặc dù lúc mới xuất hiện nó hầu như không được chú ý, nhưng cho đến tận bây giờ, hội người hâm mộ của nó vẫn đang tăng lên đều đều. Dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Chuck Palanihiuk, nhân vật được thủ vai bởi những khuôn mặt sáng giá nhất Hollywood, “Fight Club” thể hiện một tín ngưỡng của bạo lực và thuyết hư vô ấn tượng nhất kể từ sau “A Clockwood Orange” của đạo diễn Stanley Kubrick.

Fight-Club-1999

Edward Norton thủ vai một nhân vật vô danh, một trí thức cổ cồn trắng thường xuyên lui tới các câu lạc bộ vào ban đêm, giả vờ là một người cần giúp đỡ. Tại đây, gã gặp Marla, một con nghiện thuốc kích thích cũng hay lui đến những câu lạc bộ đó và cũng giả vờ là nạn nhân như gã. Cuộc đời của gã thay đổi chóng mặt kể từ sau khi gã gặp Tyler, một “con người thượng đẳng đích thực”, có một hệ thống giá trị và đạo lí của riêng mình, hoàn toàn trái ngược với gã nhân vật chính vô danh này. Gã và Tyler bắt đầu tổ chức những cuộc đấu tay đôi đường phố, quy tụ được một đám thành viên trung thành tạo thành một tổ chức với tên gọi Fight Club. Nhưng gã dần nhận ra hành vi của Tyler càng ngày càng trở nên nguy hiểm, gã cố dừng cuộc chơi, nhưng sự việc phức tạp hơn gã nghĩ nhiều lần.

Nếu bạn để ý đến từng chi tiết phim nhỏ một, cái kết bất ngờ nổi tiếng của bộ phim có thể sẽ không làm bạn giật mình, nhưng dù sao nó cũng tạo nên một sự khắc họa ấn tượng khái niệm Con người thượng đẳng của Nietzsche. Và thêm nữa, Đạo lý Chủ-Nô không chỉ diễn ra ngoài xã hội, mà còn có thể gây xung đột trong chính một con người, một nhân cách.

6. Apocalypse Now” (Thời khắc tận thế – 1979)

Đó là 153 phút kết hợp kiệt tác của âm nhạc, hình ảnh và diễn xuất. Bất chấp một số vấn đề lúc đầu như khi “bố già” Marlon Brando hoàn toàn không chuẩn bị gì cho vai diễn trong phim, hay như sự tiếp nhận lạnh nhạt của giới phê bình khi phim vừa mới ra mắt, ngày nay “Apocalypse Now” là một bộ phim thiêng, được tôn thờ bởi cả 2 giới chuyên và không chuyên.

Bộ phim kể về câu chuyện của một người lính Mỹ trong thời kì chiến tranh Việt Nam, đại úy Benjamin Willard, được giao nhiệm vụ đột nhập sang Cambodia ám sát viên đại tá biến chất Walter Kurtz. Sự hiện sinh của bi kịch (Birth of tragedy) là khái niệm triết học được mở rộng và phát triển xuyên suốt bộ phim.

Apocalypse-Now

Giống như người Hy Lạp cổ đại, những nhà quan sát hiện đại cũng cần phải chứng kiến địa ngục của nỗi thống khổ của con người để hiểu được mục đích và ý nghĩa đích thực của cuộc sống. “Apocalypse Now” đào sâu thêm vào ý tưởng đó, và khán giả khi cố gắng kiếm tìm ý nghĩa của bộ phim sẽ chỉ nhìn thấy nhân vật trong phim cũng giống như mình, cùng tìm kiếm một cách tuyệt vọng cho sự tồn tại của họ.

Đại úy Benjamin Willard về cơ bản là một kẻ thua cuộc, gã tin rằng, nhiệm vụ mà gã được giao sẽ cho gã một mục đích sống. Đối diện với gã là đại úy Walter Kurtz, một anh hùng chiến tranh, cực kì tài năng và giàu thành tích, nhưng đứng trước sự bạo tàn của chiến tranh ông đã hóa điên, tự phong mình thành vua của một bộ lạc ở Cambodia.

Hai con người họ là hai mặt của một đồng xu, là hiện thân của hai nhân vật trong thần thoại Hy Lạp: thần mặt trời Apollo và con trai của ông ta Dyonisus. Một Apollo không muốn làm người hùng nữa, mà chỉ muốn trốn tránh, và một Dyonisus đấu tranh cả đời để ngồi lên được ngai vàng của Apollo. Đó là một cuộc đấu trí. Và cả  hai kẻ tham gia đều thật vô nghĩa nếu thiếu kẻ còn lại.

5. “Citizen Kane” (Công dân Kane – 1941)

Được công nhận bởi người xem phim, giới phê bình và giới làm phim như là bộ phim vĩ đại nhất mọi thời đại (tất nhiên trong nghệ thuật mọi thứ chỉ là tương đối), “Citizen Kane” mang theo nó những kĩ thuật mới nhất trong việc biên tập, phong cách tự sự và góc quay phim. Bộ phim còn nhận được sự ngưỡng mộ lớn hơn nữa nếu xét đến độ tuổi còn rất trẻ của Orson Welles khi ông viết kịch bản, đạo diễn và biên tập bộ phim này.

Từ khóa xuyên suốt của bộ phim là Rosebud – lời nói cuối cùng lúc hấp hối của tỉ phú Charles Foster Kane khi ông chết một mình tại dinh thự của mình. Một nhóm các nhà báo bắt đầu lần ngược về quá khứ của Kane để tìm hiểu ý nghĩa của từ khóa đó. Họ gặp những người quen của Kane, và lần lượt từng người trong số họ hồi tưởng về người đàn ông giàu nhất nước Mỹ.

Citizen_Kane_2207

Sau một tuổi thơ sống trong nghèo khó nhưng ngọt ngào, Kane càng ngày càng trở nên giàu có và quyền lực, ông đạt đến đỉnh cao danh vọng và thành đạt từ rất sớm: ông là hiện thân của giấc mơ Mỹ. Nhưng sự sụp đổ cũng là điều không thể tránh khỏi. Đến cuối cùng, khi nằm hấp hối một mình trên giường, ông chỉ cần Rosebud bên cạnh mình.

Về mặt triết học, bộ phim diễn tả một cực điểm khi Ý chí hùng cường (Will to Power) tiếp xúc với Thế giới quan riêng biệt (Perspectivism). Sự phất lên của Kane được định hướng bởi ý chí hướng tới quyền lực của ông ta – thứ bắt rễ từ nền tảng Đạo lý của Chủ nô. Nhưng khi đã đạt đến đỉnh cao, thế giới quan của Kane thay đổi.

Không có gì là sự thật khách quan cả. Dưới con mắt của người khác, Kane giống như một vị thần, nhưng dưới con mắt của mình Kane không còn nhận ra bản thân nữa. Những giá trị và tập thể tôn thờ có thể chẳng có nghĩa lí gì so với một số cá nhân. Điều đó giải thích tại sao sống trong một căn nhà tuyệt đại đa số người khác chỉ dám mơ về, gánh trên vai một danh tiếng to lớn, Kane nhận thấy rằng món đồ chơi thuở bé tên là Rosebud là điều duy nhất ông muốn.

4. Dogville” (Dogville – 2003)

“Dogville” là bộ phim đầu tiên trong bộ ba phim Hoa Kì – mảnh đất cơ hội của đạo diễn người Đan Mạch – Lars Von Triers. Bộ phim diễn ra trong một khung cảnh nhỏ hẹp, bao gồm chín chương và một đoạn khai đề.

“Dogville” kể câu chuyện của Grace, một phụ nữ xinh đẹp phải chạy trốn khỏi một đám xã hội đen, buộc phải tìm chỗ trú ở một thị trấn nhỏ tên là Dogville. Tom là người đại diện cho thị trấn nhỏ này, chính anh ta động viên cái cộng đồng sống cách ly này đồng ý đón nhận và che giấu Grace. Đổi lại cô sẽ phải làm việc cho họ. Mọi thứ dường như có vẻ ổn.

Dogville

Nhưng khi vị cảnh sát trưởng đến đó với một bức ảnh thông báo rằng Grace bị “mất tích”, cư dân thị trấn này đòi hỏi nhiều hơn từ Grace để chấp thuận việc che giấu cô. Khi vị cảnh sát trưởng trở lại lần nữa với tấm ảnh truy nã của Grace, đám người này biến Grace thành nô lệ cho họ và giấu tiệt luôn Grace khỏi cảnh sát. Chỉ có điều Grace giữ một bí mật đáng sợ, và việc làm hại cô thật sự là một việc làm ngu ngốc và tai hại cho cư dân của thị trấn đó.

Ý tưởng của bộ phim, như Lars Von Trier đã khẳng định, rằng “cái ác có thể trỗi dậy ở bất cứ đâu miễn là có điều kiện phù hợp”. Nói cách khác, đó chính là ý tưởng mà Nietzsche đã đưa ra trong tác phẩm “Beyond Good and Evil” (Trên cả Thiện và Ác) và “On Genealogy of Morality” (Đạo lý đại cương).

Một lần nữa chúng ta lại thấy Đạo lý Chủ-Nô được nhắc đến. Mỗi con người nên được dẫn lối bởi đạo lý của riêng mình, nhưng khi Chủ và Nô đổi chỗ cho nhau, hậu quả sẽ rất tàn khốc bởi vì họ không tôn trọng đạo lý của nhau.

3. “The Sacrifice” (Sự hy sinh – 1986)

The Sacrifice là bộ phim cuối cùng của Andrei Tarkovsky khi ông vẫn còn ở Liên Xô. Vị đạo diễn này đã được chẩn đoán mắc bệnh ung thư trong khi làm hậu kỳ cho phim, tuy nhiên chủ đề về cái chết trong phim chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Alexander – một nhà báo, một diễn viên đã giải nghệ và một triết gia – trồng một cái cây cùng con trai bị câm của mình – “Little Man”. Anh ta kể cho con trai câu chuyện về Ioann Kolov, học trò của một giáo sĩ tên là Pamve. Ioann được thầy của mình chỉ dạy hàng ngày phải trèo lên đỉnh một ngọn núi để tưới nước cho một cái cây đã chết cho đến khi nó sống lại, và sau ba năm, phép màu đã xảy ra.

The-Sacrifice-1986

Otto – một bưu tá bán thời gian, đồng thời cũng là một triết gia – đi đến với một tấm thiệp sinh nhật dành cho Alexander. Alexander nói với bạn mình rằng mối quan hệ của anh ta với Chúa là không có thực. Sau khi Otto dời đi, vợ của Alexander, bác sĩ gia đình của họ đến đón anh và đứa con trai về nhà.

Mọi người tham gia vào một bữa tiệc sinh nhật cho Alexander. Sau khi bữa tiệc kết thúc, chương trình thời sự thông báo rằng một cuộc chiến hạt nhân đã bắt đầu giữa các siêu cường. Alexander cầu nguyện một cách tuyệt vọng đến Chúa, đánh đổi mọi thứ mình có để ngăn không cho cuộc chiến xảy ra. Otto nói với Alexander rằng anh ta có thể cứu thế giới, nếu tối hôm đó anh đến thăm bà góa Maria, người mà Otto tin rằng là một phù thủy.

Alexander đến thăm Maria, rồi tỉnh dậy sáng hôm sau và thấy mọi thứ thật yên tĩnh và thanh bình. Alexander rủ mọi người ra khỏi nhà đi dạo buổi sáng, và khi họ đã đi khỏi, anh ở lại phóng hỏa nhà mình. Một chiếc xe cứu thương đột nhiên xuất hiện và đưa anh đi. Cảnh cuối cùng là khi Maria gặp Little Man đang tưới nước cho cái cây cậu bé trồng hôm trước, và cậu bé đột nhiên không còn câm nữa.

Chi tiết khó hiểu nhất của bộ phim có lẽ là khi Alexander cầu nguyện đến Chúa nhưng cuối cùng lại đến gặp bà phù thủy. Thế giới đã được cứu, nhưng là nhờ ai? Otto nhắc đến một câu nói của Nietzsche: “Mọi thứ tuyến tính đều là giả dối”, dẫn lời một người lùn nói với Zarathustra, thêm rằng “Thời gian là một vòng tròn”. Huyền thoại của Kolov không phải là một chi tiết tình cờ, đó chính là Vĩnh cửu luân hồi.

Alexander đã trao tặng một món quà, một món quà tối hậu cho nhân loại thông qua sự hy sinh “trên cả con người” của mình. Cả bộ phim còn để ngỏ cho người xem diễn dịch lại. Adrei dường như đã xây dựng một câu chuyện phản chiếu chính sự bối rối và bất an của mình. Có lẽ ông coi Vĩnh cửu luân hồi là một khái niệm kết nối tất cả những bộ phim của mình. Tarkovsky chiêm nghiệm về những con người tạo ra những thứ vượt lên trên chính bản thân mình, và cuối cùng thì kẻ tạo ra phép màu là Chúa, hay là bà phù thủy, đâu có quan trọng.

2. “Napoleon” (Napoleon – 1928)

Đó là bộ phim câm mang tính sử thi dài gần 6 tiếng về cuộc đời của Napoleon Bonaparte. Bộ phim mang theo nó những kĩ thuật quay cực kì tân tiến vào thời điểm nó được dựng, như là góc quay thứ nhất (Point of view camera), quay dưới nước, camera cầm tay, thay đổi độ hắt sáng,… Những kĩ thuật này về sau gây ảnh hưởng rất lớn đến Làn Sóng Mới của điện ảnh Pháp.

Napoleon-1927

Cuộc đời của Napoleon, từ khi còn là một sĩ quan cấp thấp cho đến khi trở thành Hoàng đế Pháp là một ví dụ tiêu biểu cho ý chí hùng cường của Nietzsche.

1. “The Turin Horse” (Con ngựa thành Turin – 2011)

Là bộ phim cuối cùng của huyền thoại sống Bella Tarr, “The Turin Horse” bao gồm đúng 30 cảnh bấm máy dài (long take), mô tả cuộc sống thường ngày của một con ngựa, người chủ của nó và cô con gái của ông ta.

the-turin-horse

Mở đầu bộ phim là một dòng credit kể về sự kiện vào ngày 3/1/1889, Nietzsche gặp phải một cơn sốc tinh thần cực lớn sau khi ông chứng kiến cảnh một con ngựa bị đánh đập dã man. Bộ phim thậm chí còn không có một kịch bản chính quy. Các nhà tài trợ chỉ nhận được một mảnh giấy từ nhà biên kịch Krasznahorkai thay vì bất cứ thứ gì chi tiết hơn.

Không giống các bộ phim khác trong danh sách này, “The Turin Horse” không khắc họa bất cứ ý tưởng chủ đạo nào của Nietzsche, mà nó tập trung vào cái gốc của những tư tưởng đồ sộ này: sức nặng của sự làm người. Những cảnh quay lặp lại là những cảnh quay thực: 3 thực thể trong phim cố gắng tồn tại trong một cái thế giới gần như vừa trải một cơn khải huyền.

Chủ nghĩa hư vô trong phim đến từ những nhân vật thường ngày rất quen thuộc, bạn có thể thấy họ hàng ngày, không có một rào cản nào ngăn cách thế giới của nhân vật và thế giới của khán giả cả.

Vị khách trong phim trao cho cô gái một cuốn phản Kinh Thánh. Tiếp nối những suy nghĩ của Nietzsche, vị khách không đổ lỗi cho sự xuống cấp của nhân tính cho riêng mình Chúa, mà cho cả Chúa và con người. Vị khách đó, như lời Bella Tarr đã nói, giống như một cái bóng của Nietzsche.Vị đạo diễn này, kẻ luôn muốn trở thành một triết gia, kẻ luôn luôn tránh xa những cách kể chuyện thông thường, coi “The Turin Horse” như một tác phẩm đơn giản và phản sáng tạo.

(Theo Phi Hoàng Trịnh từ Đẹp Online. Nguồn ảnh: Tasteofcinema.com)

————————————————————–

Nietzsche, tên đầy đủ: Friedrick Wilhelm Nietzsche (1844 -1900), là một trong những triết gia và nhà tư tưởng vĩ đại nhất lịch sử.

Tác phẩm của ông chứa đầy những tư tưởng mang tính nền tảng về tôn giáo, đạo lí, văn hóa đương đại, triết học và khoa học, gây ảnh hưởng rất nhiều đến các phong trào chính trị, văn hóa đại chúng cũng như tư tưởng của các triết gia sau này.
Những tư tưởng chủ đạo của ông bao gồm Chủ nghĩa nhận thức (Perspectivism), Ý chí hùng cường (The Will to Power), Đạo lí Chủ-Nô (Master-Slave Morality), Chúa đã Chết (The Death of God), Trên cả con người (Above-Human) và Vĩnh cửu luân hồi (Eternal Recurrence), bao chứa trong hàng ngàn trang viết tay hầu như không bao giờ chỉnh sửa hay gạch xóa. Tất cả được ông viết theo một lối văn đầy ẩn dụ và châm biếm – như giáo sư Stanley Rosen của Đại học Boston đã nói: “Thành công trước tiên của Nietzsche là thành công của một nhà văn lớn”.
Cũng giống như rất nhiều thiên tài khác, Nietzsche sống một cuộc đời nghèo khổ, bị bệnh tật đầy đọa, không vợ con, hóa điên ở tuổi 45. 11 năm cuối đời, ông sống nhờ sự chăm sóc của mẹ và chị gái. Ở quãng thời gian đó, ông vẫn kịp để lại những kiệt tác, phần lớn được viết dưới dạng tiểu thuyết triết học, như: “Beyond Good and Evil”(Vượt trên thiện và ác), “Thus Spoke Zarasthustra” (Như Zarasthustra đã nói),  “The Birth of Tragedy” (Nguồn gốc của Bi Kịch), “The Genealogy of Morals” (Phả hệ của Luân Lí)….

You Might Also Like

Leave a Reply