KIẾN THỨC

3D là gì?

994-3d-hd-1080p-www-1366x768

3-D là tên viết tắt của từ 3-Dimension (3 chiều). Kỹ thuật 3-D mà người ta vẫn sử dụng một cách phổ biến hiện nay thường đi liền với khái niệm “đồ họa 3D” – tức là những hình ảnh được dựng nên một cách sống động như thật với sự trợ giúp của các phần mềm đồ họa vi tính. Kỹ thuật này lần đầu tiên được biết đến trên màn ảnh vào năm 1995 với bộ phim hoạt hình nổi tiếng Toy Story (Thế giới đồ chơi) của hãng Walt Disney.

Bộ phim này đã mở ra một thời kì mới cho thể loại phim hoạt hình không chỉ với những hình ảnh đẹp hơn, sinh động hơn, “ăn đứt” khi so sánh với các bộ phim hoạt hình 2D truyền thống, mà còn dần làm xoá nhoà đi khoảng cách giữa những  hình  ảnh “thật” và “giả” trên phim.

Sau đó, công nghê Real 3D – không gian ba chiều “thật” đã ra đời. Khác với công nghệ phim 3D trước kia, vốn chỉ là những phim hoạt hình có các hình khối được dựng trong không gian ba chiều, nhưng nó vẫn bị giới hạn bởi không gian phẳng (2D) của màn hình, thì công nghệ Real 3-D làm cho người xem có cảm giác như những hình khối đó hoàn toàn thoát ra khỏi màn hình. Điều này khiến cho hình ảnh trên phim trở nên sâu và thật hơn rất nhiều.

Chú gà siêu quậy 3D

Chú gà siêu quậy 3D

Chú gà siêu quậy định dạng 2D không long lanh như 3D

Chú gà siêu quậy định dạng 2D không long lanh như 3D

Bộ phim được coi là làm theo công nghệ 3-D đầu tiên đã ra đời vào năm 1953 với  bộ phim House of Wax, mở ra một thời đại doanh thu mới: Chicken Little (2005) của hãng Walt Disney thu về gần 100 triệu USD chỉ trong tháng công chiếu đầu tiên, Ice Age 2 có doanh thu gần 200 triệu USD chỉ riêng tại Mỹ, Shark Tale thì thu về 363 triệu USD, Madagascar đạt 525 triệu USD ở thị trường Mỹ…

Tuy nhiên, tham vọng của con người là không giới hạn. Đạo diễn lừng danh James Cameron đã quyết định cho thực hiện dự án Avatar – phim 3D do người thật đóng – vốn đã ấp ủ gần 11 năm trời của mình. Khác với những bộ phim hoạt hình 3D trước đó chỉ dựng hoàn toàn bằng máy tính, James Cameron đã sử dụng một loại máy quay phim kĩ thuật số 3D tiên tiến có hai ống kính song song, có thể định vị được những tiêu điểm khác nhau, thích hợp với từng địa hình quay và những hình ảnh này được sẽ được hiện ngay trực tiếp trên máy tính để có thể chỉnh sửa một cách tùy ý.

Có thể nói chính nhờ phương pháp này mà bộ phim Avatar đã trở thành một trong những người đi tiên phong mở ra “một trang sử mới cho lĩnh vực điện ảnh”.

Phim đi đầu trong công nghệ 3D – Avatar

Có thể nói chính nhờ phương pháp này mà bộ phim Avatar đã trở thành một trong những người đi tiên phong mở ra “một trang sử mới cho lĩnh vực điện ảnh”.

Với sự hỗ trợ của 3D thì không cần huấn luyện một con hổ (trong Life of Pi) mà người ta chỉ cần con rối màu xanh lam, xanh lục là có thể thực hiện được những cảnh quay cần đến hổ. Hay những cảnh cả thành phố bốc cháy hoặc nổ tung thì chỉ cần dùng kỹ thuật 3D trên một phông nền màu xanh và một vài dụng cụ khác là có thể tạo ra những cảnh quay hoành tráng mà lại tiết kiệm được chi phí.

Công nghệ này còn giúp cho các diễn viên thực hiện được những “điệp vụ bất khả thi” như những cảnh bay lượn trên không hay những cảnh quay nguy hiểm. Và đương nhiên là 3D còn giúp chúng tạo ra những sinh vật không có trong thực tế, những con quái vật ghê rợn…

Những sản phẩm 3D không chỉ phục vụ nhu cầu giải trí như game, hoạt hình, điện ảnh mà còn được sử dụng hiệu quả vào việc sản xuất các TVC, đào tạo, huấn luyện trong những ngành công nghiệp nhạy cảm như quốc phòng, y tế, giáo dục… mở ra một kỷ nguyên với nhu cầu lớn về hoạ sĩ hoạt hình 3D. Họ có thể hoạt động trong các lĩnh vực điện ảnh, video game, quảng cáo…

(Sưu tầm)

You Might Also Like

Leave a Reply