KIẾN THỨC, NỔI BẬT

5 phương pháp phối màu phim phổ biến – Tìm hiểu về thiết kế màu sắc điện ảnh

color-schemes-640x386

Để có thể sử dụng màu sắc để tạo nên sự hài hòa, hoặc sự căng thẳng trong một cảnh quay, hoặc thu hút sự chú ý người xem vào một chủ đề trực quan chính (key visual theme) có thể quen dần với một hiệu ứng đẹp mắt. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng theo dõi 5 phương pháp phối màu phim phổ biến có thể giúp bạn hiểu được cách hoạt động của việc thiết kế màu sắc điện ảnh.

Đây là ngành công nghiệp cực kì tuyệt vời của chúng ta. Tôi thật sự yêu nó, con người, trang thiết bị, sự sáng tạo và năng lượng. Tại cùng một thời điểm, khi kinh nghiệm của bạn dày dặn hơn và bạn mở rộng được mạng lưới quan hệ cho phép bạn bước lên những cấp độ cao hơn, bạn cũng nhận thấy cấp độ kiến thức bạn mong muốn phát triển lên một tầm cao mới. Đây là một điều cực kì logic, nhưng tôi nhận thấy những kiến thức tôi mong muốn thường rất hiếm khi được đem ra thảo luận, bởi vì, bạn biết đấy, mọi người đều tưởng rằng họ đã có sẵn nó trong đầu.

 

IMG_9335_square

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tôi muốn chia sẻ một vài khoảnh khắc “Ơ-rê-ka” của tôi, tôi chắc rằng một số hoặc hầu hết các bạn đã biết rồi, tất nhiên bởi vì nó cũng chỉ là kiến thức “phỏng đoán”, nhưng sự thật có lẽ nó sẽ giúp cho nhiều hơn một vài trong số các bạn tự liên kết các kiến thức lại với nhau.

Nếu bạn chưa thật sự từng hiểu thấu đáo lý do tại sao những màu sắc nhất định hay tổ hợp các màu sắc gợi ra hay tạo ra một phản ứng cảm xúc, hoặc chỉ đơn giản chỉ là nhìn thấy hợp mắt, lời giải thích này của lý thuyết màu sắc thực tế cơ bản có thể bất thình lình gây ra những mảnh ghép hình rơi xuống gần nhau hoặc châm ngòi cho một sự quan tâm để nghiên cứu sâu hơn nữa.

 

Lên kế hoạch vể tone màu của bộ phim

Tất nhiên trong hậu kì, một colorist (người làm màu sắc) có thể chỉ làm việc với những gì cô/anh ấy được giao, và vì thế nó có thể gây ra cuộc cãi vã về màu sắc của tổng thể bộ phim và cảm xúc của hình ảnh là trách nhiệm của production designer. Đây là một kế hoạch rất cẩn thận của tập thể tổ mỹ thuật trong cuộc tham vấn dài với đạo diễn và nhà quay phim trước khi camera chạy. Trong khi đây là sự thật, có bao nhiêu người trong số chúng ta thường làm việc với một production designer chuyên nghiệp?

Thi thoảng có lẽ, nhưng không phải với mọi dự án. Nhiều lần tôi huấn luyện ai đó trong vai trò tập sự viên, hoặc đơn giản được dùng trong vai trò của một stylist để nhanh chóng trang trí một địa điểm với những đồ vật có sẵn, hoặc mang đến một vài các thứ được chọn với nhau nếu cần thiết. Kiến thức căn bản tôi sẽ chia sẻ sẽ vô cùng có ích trong vài tình huống.

 

Hiệu ứng màu sắc

Màu sắc có thể ảnh hưởng tới chúng ta về mặt tâm lý và vật lý, thường chúng ta không nhận thức được điều đó, và nó có thể được dùng như một thiết bị đủ mạnh ở bên trong câu chuyện. Kiến thức bạn có để kiểm soát, và kiểm soát nghĩa là bạn có thể vận dụng và sử dụng màu sắc để giúp công việc của bạn hiệu quả và thẩm mỹ.

Có thể dùng màu sắc để tạo ra sự hài hòa, hoặc căng thẳng trong phân cảnh, hoặc thu hút sự chú ý người xem vào một chủ đề trực quan chính (key visual theme) có thể quen dần với một hiệu ứng đẹp mắt.

Trong ý nghĩa của công việc của những nhà đạo diễn hình ảnh vĩ đại nhất thế giới mà chúng ta thừa nhận, không có gì được tạo ra một cách tình cờ. Màu đỏ mạnh mẽ đã được chứng minh làm tăng huyết áp, trong khi màu xanh có tác dụng làm dịu lại. Một số màu sắc rõ ràng có liên quan đến một vị trí hay địa điểm cụ thề, trong khi số khác cho người xem cảm giác về thời gian hay thời điểm.

Bánh xe màu

Đầu tiên, chúng ta hãy nhìn vào những điều cơ bản sẽ áp dụng vào cả thiết kế lẫn hậu kì.

Tất cả bắt đầu với bánh xe màu. Điều này đối với những ai đã có kinh nghiệm với 3-way corrector nên cảm thấy quen thuộc.

 

color-wheel-300

Bánh xe màu là một công cụ phổ biến như bạn sẽ thấy, là một công cụ kiểm soát màu sắc, và nó là lý thuyết màu tiêu chuẩn trong việc định nghĩa vô số các tổ hợp màu mà chúng ta đặc biệt mặc định rằng có sự hòa hợp trong đó.

Trong một hình thức đơn giản hóa, bánh xe màu gồm 12 màu căn bản dựa trên mô hình màu RYB (hoặc màu trừ – subtractive).

Trong mô hình màu RYB, màu cấp một gồm đỏ, vàng và xanh lam. Ba màu thứ cấp hai là xanh lá, cam và tím, và có thể được tạo ra bởi việc trộn hai màu cấp một với nhau. Màu thứ cấp ba xa hơn có thể được tạo ra từ việc trộn màu cấp một và thứ cấp hai.

Hãy cùng nhau lý giải một vài điều. Đầu tiên, chúng ta sẽ chú ý đến gam màu ấm bên tay phải, cà gam màu lạnh bên tay trái. Bên những màu gam ấm sáng hơn và tràn đầy năng lượng. Bên các màu gam lạnh cho ta cảm giác nhẹ nhàng và tạo ra dấu ấn bình tĩnh.

Chúng ta sẽ nhanh chóng cắt nghĩa những cách phối màu sắc hài hòa thông thường hoặc nhấn màu sắc, mỗi sự kết hợp 2 hoặc nhiều màu hơn trong một mô hình cụ thể (specific pattern) hoặc mối quan hệ trong bánh xe màu.

 

Tất cả các khung hình được lấy để minh họa cho 5 phương pháp phối màu phổ biến nhất (common schemes) được tạo ra bởi nhà thiết kế đồ họa Roxy Rădulescu từ trang web của cô  www.moviesincolor.com. Nó đáng để dành thời gian để xem qua tất cả các công việc cô đã làm.

Adobe cũng chia sẻ những phương pháp phối màu ở đây.

5 phương pháp phối màu điện ảnh phổ biến

     1. Màu bổ túc (complimentary colors)

Complementary

2 màu đối nhau trong vòng tròn màu tạo ra một cặp bổ sung cho nhau. Đây là phương pháp cho đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi. Một ví dụ phổ biến là cặp cam và xanh lam hoặc màu mòng két. Việc bắt cặp giữa một màu ấm với một màu lạnh cho ra kết quả là sự tương phản cao và tươi (vibrant). Saturation phải được quản lý chặt chẽ, nhưng cặp màu bổ sung thông thường thường khá tự nhiên và đẹp mắt.

Màu cam và xanh lam có thể thường được liên kết với xung đột trong hành động, bên trong nội tâm hoặc ngoại cảnh. Thông thường một cuộc xung đột nội tâm bên trong nhân vật có thể phản ánh trong việc chọn lựa màu sắc ở ngoại cảnh môi trường của cô/anh ấy.

Complementary_Amelie_2

Complementary_Amelie

Các bảng màu (color palette) trong phim “Amelie” của Jean-Pierre Jeunet là một ví dụ tiêu biểu của cặp màu bổ túc đỏ-xanh lá.

Complementary_Fight_Club

Cam và xanh mòng két dễ thấy một cách rõ ràng trong cảnh phim “Fight Club” này. Xanh mòng két thường bị đẩy vào vùng shadow (vùng tối), và cam trong highlights (vùng sáng) thành điểm nhấn.

Complementary_Drive

Cảnh này trong phim “Drive” cũng vậy.

Complementary_Fight_Club_2

Cặp màu bổ túc không phải lúc nào cũng rõ ràng và sự tương phản giữa hai màu sắc được dùng phải có sự tương quan. Những shot phim khác trong “Fight Club” xuất hiện ban đầu dường như chỉ có một màu mòng két tỗng thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ hình ảnh, nhưng một ánh nhìn gần hơn tiết lộ vẫn còn đó một màu cam chạm đến màu da (skin tone) tương quan với màu xanh lam ám xanh lá đậm.

     2. Màu tương đồng (Analogous)

Màu tương đồng là các màu cạnh nhau trong cùng bánh xe màu. Chúng hợp nhau và có thể tạo ra sự hài hòa tỗng thể trong bảng màu. Nó hoặc là các màu gam ấm hoặc gam lạnh, vậy nên không có sự tương phản và căng thẳng của các màu bổ túc.

Analogous

Màu tương đồng dễ dàng tận dụng lợi thế của cảnh quan và ngoại thất như chúng ta thường tìm thấy trong tự nhiên. Thường thì một màu sắc có thể được chọn để thống trị, một màu thứ hai để hỗ trợ, cà một màu thứ ba cùng với tone đen, trắng và xám để làm điểm nhấn nhấn.

 

 

 

 

 

Analogous_American_Hustle

Đỏ, cam, nâu và vàng trong phân cảnh của “American Hustle” này đặt cạnh nhau trong bánh xe màu tạo thành một tổng thể gam màu ấm cúng tạo cảm giác với rất ít sự căng thẳng trong các hình ảnh.

     3. Nhóm 3 màu phối (triadic schemes)

 

Triad

Nhóm 3 màu được sắp xếp có trật tự xung quanh bánh xe màu theo một tam giác đều. Một màu là màu chủ đạo, còn những màu còn lại tạo điểm nhấn. Chúng sẽ cho cảm giác tươi (vibrant) kể cả nếu như màu sắc khá ít độ rực (less saturate).

Phối 3 màu là một trong những phương pháp phối màu ít phổ biến trong phim ảnh và mặc dù nó khó khăn, nhưng nó khá ấn tượng.

 

 

 

 

Pierre_Le_Feut

Phim “Pierrot Le Fou” sản xuất năm 1964 của Jean-Luc Goddard sử dụng phối 3 màu là đỏ, xanh lam và xanh lá.

     4. Màu cận bổ túc (Split Complementary Colors)

SplitComplementary

Phối màu cận bổ túc thật sự rất giống với phối màu bổ túc nhưng thay vì sử dụng trực tiếp các màu đối nhau cạnh màu gốc, nó dùng hai màu cạnh màu đối đó. Nó cũng có độ tương phản cao nhưng ít gây ra sự căng thẳng hơn cặp màu bổ túc.

 

 

 

 

 

Split_Complementary_Burn_After_Reading

Phối màu cận bổ túc trong phân cảnh trong phim “Burn After Reading” của anh em nhà Coen bao gồm các màu đỏ, xanh lá và màu mòng két.

     5. Phối màu bổ túc đôi (Double Complementary Colors)

Tetrad

Nhóm phối màu bổ túc đôi gồm 4 màu sắp xếp theo hai cặp bổ sung. Kết quả là ta có một bảng màu đầy đủ với nhiều biến thể. Giống như hầu hết các màu sắc sắp xếp hài hòa, một màu giữ vai trò chủ đạo.

 

 

 

 

 

Tetradic_Mama_Mia

Phân cảnh bữa tiệc đầy màu sắc trong phim “Mama Mia” đặt cạnh nhau là một ví dụ về phối màu bổ túc đôi để tạo ra sự cân bằng và hài hòa màu sắc trên bảng màu trong một phân cảnh mà nếu không có nó, nó không thể trông giống một cái vũ trường diêm dúa.

Vài tone màu phim phổ biến nói chung có thể được tạo ra ở phần hậu kì bất kể màu sắc trong hình ảnh là tone cam hay mòng két, màu cam luôn được đẩy vào phần highlight và nửa phần sáng của skin tone (vùng da người) và màu mòng két (hoặc xanh lam ám xanh lá) bị đẩy vào vùng shadow.

Complementary_Magnolia

Phân cảnh trong phim “Magnolia” cho thấy vài ví dụ về mối tình của Hollywood với màu cam và mòng két. Xanh lam/xanh lá bị đẩy vào cùng shadow, cam ở midtone và highlight làm nổi bật vùng skin tone.

Hy vọng bài breakdown cơ bản này có thể giúp bạn kiểm soát trong khi lên kế hoạch và mục đích lựa chọn màu sắc trên set khi làm việc với designer, hoặc quan trọng hơn là ở giai đoạn hậu kì để thiết lập công việc riêng rẽ.

Tất nhiên, tôi cho rằng bạn đã biết về mớ kiến thức trên, viết ra để đề phòng trường hợp các bạn “quên” thôi!

(nguồn cinema5D.com)

 

You Might Also Like

Leave a Reply