NHẬN XÉT PHIM

‘Boyhood’ – 12 năm cho một bộ phim

22boyhood-ss-slide-7UMX-jumbo-8859-1413688036

Đạo diễn Richard Linklater sử dụng cùng một dàn diễn viên để ghi lại những thay đổi chân thực về ngoại hình và tâm lý của một cậu bé từ năm 2002 tới 2014.

Richard Linklater chưa bao giờ là một cái tên quá nổi ở Hollywood song những bộ phim tinh tế, gợi cảm của anh luôn có sức neo đậu rất lâu trong tâm trí của những người yêu nghệ thuật thứ bảy. Năm ngoái, khán giả có cơ hội thưởng thức Before Midnight như một cái kết đẹp cho câu chuyện tình 9 năm mới kể một lần của Jesse và Celine. Năm nay, Richard Linklater gửi tới những người mộ điệu một món quà điện ảnh còn độc đáo và được chuẩn bị kỳ công hơn. Đó là Boyhood, bộ phim được thực hiện trong vòng 12 năm (2002 – 2014), kể về quá trình trưởng thành của cậu bé Mason từ khi cậu học lớp một cho tới khi rời trung học.

Sử dụng cùng một dàn diễn viên trong 12 năm để ghi lại những thay đổi chân thực nhất về ngoại hình và cảm xúc của nhân vật giống như một ván cược “được ăn cả ngã về không”. Luật pháp Mỹ quy định không được ký hợp đồng lao động quá 7 năm vì thế không ai trong dàn diễn viên chính có thể ký hợp đồng với bộ phim.

"Boyhood" là một tác phẩm đầy mơ mộng và táo bạo của đạo diễn Richard Linklater.

“Boyhood” là một tác phẩm đầy mơ mộng và táo bạo của đạo diễn Richard Linklater.

Đạo diễn Richard Linklater phải là một người mơ mộng lắm mới có đủ niềm tin rằng dù không có bất cứ ràng buộc pháp lý nào, những diễn viên chính vẫn sẽ đi đến cùng trong cuộc chơi dài hơi này. Nhưng giống như một câu hát của John Lennon, Richard Linklater không phải là kẻ mơ mộng duy nhất. Nhà đầu tư của bộ phim, IFC, cam kết tài trợ 200.000 USD mỗi năm và cho phép Linklater có được sự tự do tối đa trong việc sản xuất mà không bao giờ phải báo cáo tình hình công việc.

Boyhood kể một câu chuyện rất giản dị: Cậu bé Mason (Ellar Coltrane), 6 tuổi, sống với bà mẹ đơn thân Olivia (Patricia Arquette) và cô chị gái lém lỉnh Samatha (Lorelei Linklater, con gái của đạo diễn). Thỉnh thoảng, cha cậu, Mason Sr (Ethan Hawke) có ghé qua nhà để đưa hai chị em đi chơi.

Năm tháng trôi qua, Mason dần trưởng thành trước con mắt của khán giả. Ở cảnh trước, cậu vẫn là một chú bé con thích vẽ bậy lên tường và hay chành chọe với chị gái. Ở cảnh sau, khán giả thấy Mason tập tọng hút thuốc, chấp nhận những lời thách thức của các đàn anh để trở thành một phần của nhóm. Có những thời kỳ, Mason tự tách mình ra khỏi đám đông, trầm lặng hơn, cố gắng lý giải cuộc sống xung quanh, băn khoăn về việc mình là ai và mình thực sự muốn gì. Khán giả cũng được chứng kiến lần đầu tiên Mason phải lòng một cô gái, lý tưởng hóa rằng đó là một tình yêu thực sự, dành cho nó rất nhiều sự kỳ vọng để rồi lại bị thất vọng.

Các diễn viên bắt đầu ghi hình cho "Boyhood" từ năm 2002. Tài tử Ethan Hawke (giữa) trong vai người cha khi ấy vẫn còn rất trẻ.

Các diễn viên bắt đầu ghi hình cho “Boyhood” từ năm 2002. Tài tử Ethan Hawke (giữa) trong vai người cha khi ấy vẫn còn rất trẻ.

Không có quá nhiều biến cố xảy ra trong phim. Câu chuyện của Mason giản dị, gần gũi và có thể xảy ra với bất cứ ai. Boyhood vừa là một bộ phim chẳng có gì đáng kể, toàn những chuyện vặt vãnh, giản đơn, nhưng đồng thời lại to tát, lớn lao như gương mặt của đời thường. Qua Mason, khán giả bắt gặp lại hình ảnh của mình thời tuổi trẻ bồng bột, đầy háo hức và cũng đầy sợ hãi khi nghĩ về tương lai.

Boyhood là một cái nhìn sắc sảo về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Từ điểm nhìn của những đứa con, khán giả có thể thấy sự tan vỡ hôn nhân, những quyết định sai lầm của cha mẹ có thể ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ con như thế nào. Khán giả cũng đồng thời cảm thông với những khó khăn, nỗi khổ tâm của người trưởng thành. Họ không phải những người hoàn hảo, họ làm tổn thương lẫn nhau, họ vấp ngã và đứng dậy. Mason Sr từng giải thích điều ấy một cách giản dị với con gái: “Con có bao giờ giận mẹ, giận em không? Những lúc ấy con có la hét với họ không? Nhưng điều ấy không có nghĩa là con không thương mẹ, thương em. Điều tương tự xảy ra với người lớn”.

Trong Boyhood, không chỉ có Samantha và Mason là trưởng thành lên theo năm tháng, cả Olivia, Mason Sr cũng dần thay đổi. Ở đầu phim, họ giống như những đứa trẻ to xác, đầy bối rối và lo sợ ở cương vị làm cha mẹ. Theo thời gian, họ điềm tĩnh và sáng suốt hơn. Vì thế Boyhood có thể là một bộ phim lý tưởng cho cha mẹ và con cái cùng ngồi xem với nhau. Trẻ con xem để học cách thông cảm và đôi khi biết tha thứ cho người lớn. Người lớn xem để hiểu rằng nuôi một đứa trẻ nên người không chỉ đơn giản là chuyện cho nó một mái nhà, cơm ăn, áo mặc mà phớt lờ mọi vui buồn trong đời sống tình cảm của nó.

Boyhood có những khoảng lặng tuyệt vời để khán giả suy nghĩ về cuộc sống. Đó là nỗi trống rỗng của các bậc làm cha làm mẹ khi thấy những con chim đã đủ lông đủ cánh rời khỏi tổ. Giây phút cuối tiễn Mason lên đường học đại học, Olivia bật khóc khi nhìn lại cuộc đời mình là một chuỗi kết hôn, ly dị và tạm biệt: “Mẹ đã nghĩ rằng hẳn phải có gì hơn thế”. Bà cay đắng khi nghĩ rằng mình đã đi qua hết những cột mốc quan trọng trong đời. Giờ đây cái chờ đợi Olivia ở cuối đường chỉ là đám tang của chính mình.

Richard Linklater vẫn chưa bao giờ làm người xem thất vọng với những câu thoại thông minh và gần gũi của mình. Lời thoại trong Boyhood chưa bao giờ tỏ ra lên gân, dạy đời, hay tỏ ra bí hiểm triết lý. Cách các nhân vật nói chuyện, trao đổi suy nghĩ đều rất thân thuộc, đời thường nhưng vẫn luôn có một cái gì đó thú vị khiến người xem mỉm cười, chau mày và nghĩ ngợi.

Nam diễn viên Ellar Coltrane bắt đầu ghi hình cho "Boyhood" khi cậu mới 8 tuổi. Lúc bộ phim đóng máy, Ellar đã chuẩn bị sang tuổi 20.

Nam diễn viên Ellar Coltrane bắt đầu ghi hình cho “Boyhood” khi cậu mới 8 tuổi. Lúc bộ phim đóng máy, Ellar đã chuẩn bị sang tuổi 20.

Xét ở một khía cạnh nào đó cũng có thể coi Boyhood là một “biên niên sử” về nước Mỹ trong khoảng thời gian 12 năm. Không có một dấu mốc thời gian cụ thể được “dán” trên màn hình nhưng khán giả sẽ có những khoảng khắc thú vị nhìn hình đoán thời điểm. Đó là những “chiếc lông ngỗng” mà Richard Linklater đã để lại làm dấu giúp người xem nắm bắt được diễn tiến câu chuyện. Khán giả chứng kiến khoảnh khắc Harry Potter ra tập đầu tiên, Obama tranh cử tổng thống, Lady Gaga ra mắt đĩa đơn Telephone, sự bùng nổ của Facebook. Kèm theo đó là những lời nhận xét thể hiện cách nhìn của người dân Mỹ bình thường về những vấn đề của cuộc sống.

Phần nhạc phim là một điểm cộng lớn cho Boyhood. Từ Yellow của Coldplay, Somebody That I Used to Know của Gotye đến Hero của Familly of the Year đều vang lên đúng lúc, đem lại không khí hoài cổ của những năm 2000. Tiếng Guitar bập bùng, tiếng nhạc vẳng ra từ radio, khúc ca của một ban nhạc vô danh trên sân khấu… Tất cả đều phóng khoáng và tràn đầy cảm hứng.

Sau loạt phim Before…, Ethan Hawke tái xuất vẫn tràn đầy phong độ. Hai diễn viên “nhí” Ellar Coltrane và Lorelei Linklater đôi khi bị cứng, gượng do lần đầu tham gia diễn xuất nhưng càng về cuối phim, càng thoải mái tự nhiên hơn trước ống kính. Patricia Arquette xứng đáng nhận được một đề cử Oscar cho vai bà mẹ mạnh mẽ và cô độc trong phim.

Boyhood là kiểu phim có thể khiến khán giả vừa mỉm cười vừa rơm rớm nước mắt. Sẽ có những bộ phim xuất sắc hơn bị lãng quên đi, nhưng Boyhood, với những điều độc đáo chỉ riêng nó có, sẽ được nhớ tới và trở thành một cột mốc của lịch sử điện ảnh thế giới. Phim nhận được sự tán thưởng từ các nhà phê bình với 100% đánh giá tích cực trên Metacritic, 99% từ Rotten Tomatoes và số điểm 8,7/10 trên IMDB.

(Anh Trâm)

You Might Also Like

Leave a Reply